Bạn rõ ràng có ba lựa chọn. Bạn có thể tăng giá bán để chỉ những ai sẵn lòng trả giá cao hơn mới có thể mua được. Bạn có thể lấy bánh từ các chi nhánh hoặc đối tác của mình. Bạn cũng có thể thuê thêm nhân viên, mua thêm máy làm bánh hoặc sắp xếp lại không gian quán sao cho có thể vận hành hiệu quả hơn/tăng năng suất. Lựa chọn một và hai thường chỉ mang tính tạm thời, ngắn hạn vì bạn khó có thể tuyển được nhân viên hay mua thêm máy ngay lập tức. Trong khi đó, lựa chọn ba có tính dài hạn vì bạn có thời gian để cải thiện năng lực sản xuất bánh.
Điều tương tự có thể thấy ở cả một nền kinh tế. Đối với một nền kinh tế như một tổng thể, sản lượng 100 cái bánh mỗi ngày chính là mức sản lượng tiềm năng mà tại đó lạm phát không có xu hướng tăng tốc hay giảm tốc, trong điều kiện nguồn lực lao động, vốn và công nghệ sẵn có.
Phản ứng của nền kinh tế khi tổng cầu vượt quá sản lượng tiềm năng này cũng tương tự như các lựa chọn của tiệm bánh. Thứ nhất, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên vì cơ chế giá cả sẽ phân bổ nguồn lực khan hiếm một cách hiệu quả nhất. Thứ hai, một số doanh nghiệp sẽ tận dụng thời cơ để nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ và bán ra trên thị trường nội địa để kiếm lời. Động thái này làm gia tăng thâm hụt ngoại thương và gây áp lực mất giá lên tiền đồng. Thứ ba, nhiều doanh nghiệp bắt đầu nghĩ dài hạn hơn khi mua thêm máy móc, thiết bị, mở rộng nhà xưởng, tuyển thêm lao động để gia tăng sản lượng. Như vậy, trong ngắn hạn nền kinh tế phải đối mặt với giá cả leo thang, đồng tiền mất giá.
Còn về dài hạn, giống như tiệm bánh không thể thuê thêm lao động mãi được vì không gian tiệm chật hẹp, nền kinh tế cũng đối mặt với các nguồn lực bị giới hạn. Việc tăng cung cũng chỉ làm chậm tốc độ tăng giá, chứ về dài hạn, giá cả vẫn sẽ tiếp tục tăng nếu tổng cầu tăng quá mạnh.
Làm thế nào ước lượng sản lượng tiềm năng của một nền kinh tế? Cách đơn giản nhất là ước lượng dựa vào hàm xu hướng tuyến tính cho tổng sản phẩm quốc nội. Có một cách khác là ước lượng tốc độ tăng trưởng tiềm năng bằng cách tính trung bình tốc độ tăng trưởng hằng năm. Ước tính cho thấy tăng trưởng trung bình giai đoạn 1990-2000 của Việt Nam khoảng 7,5%/năm và 6,5% cho giai đoạn 2001-2024 (Hình 1).
(Nguồn số liệu: Ngân hàng Thế giới)
Tuy nhiên, nếu tổng cầu dự kiến năm 2026 tăng đến 10%, vượt xa mức tăng trưởng tiềm năng ước tính (khoảng 6,5-7,5%/năm), nguy cơ đối mặt với lạm phát cao là rất lớn. Việc sản lượng tiềm năng có thể tăng tương ứng 10% là điều rất khó xảy ra bởi những cải cách gần đây cần thời gian mới thấm dần vào nền kinh tế.


