Sunday, January 4, 2026

Từ tiệm bánh đến nền kinh tế

Bạn có một tiệm bánh, với đội ngũ nhân viên và máy làm bánh hiện có, tiệm bánh chỉ có thể làm ra 100 cái bánh mỗi ngày. Nếu liên tục trong vài ngày tiệm bánh của bạn nhận được đơn hàng cao hơn 100 cái bánh, bạn sẽ làm gì?

Bạn rõ ràng có ba lựa chọn. Bạn có thể tăng giá bán để chỉ những ai sẵn lòng trả giá cao hơn mới có thể mua được. Bạn có thể lấy bánh từ các chi nhánh hoặc đối tác của mình. Bạn cũng có thể thuê thêm nhân viên, mua thêm máy làm bánh hoặc sắp xếp lại không gian quán sao cho có thể vận hành hiệu quả hơn/tăng năng suất. Lựa chọn một và hai thường chỉ mang tính tạm thời, ngắn hạn vì bạn khó có thể tuyển được nhân viên hay mua thêm máy ngay lập tức. Trong khi đó, lựa chọn ba có tính dài hạn vì bạn có thời gian để cải thiện năng lực sản xuất bánh.

Điều tương tự có thể thấy ở cả một nền kinh tế. Đối với một nền kinh tế như một tổng thể, sản lượng 100 cái bánh mỗi ngày chính là mức sản lượng tiềm năng mà tại đó lạm phát không có xu hướng tăng tốc hay giảm tốc, trong điều kiện nguồn lực lao động, vốn và công nghệ sẵn có.

Phản ứng của nền kinh tế khi tổng cầu vượt quá sản lượng tiềm năng này cũng tương tự như các lựa chọn của tiệm bánh. Thứ nhất, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên vì cơ chế giá cả sẽ phân bổ nguồn lực khan hiếm một cách hiệu quả nhất. Thứ hai, một số doanh nghiệp sẽ tận dụng thời cơ để nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ và bán ra trên thị trường nội địa để kiếm lời. Động thái này làm gia tăng thâm hụt ngoại thương và gây áp lực mất giá lên tiền đồng. Thứ ba, nhiều doanh nghiệp bắt đầu nghĩ dài hạn hơn khi mua thêm máy móc, thiết bị, mở rộng nhà xưởng, tuyển thêm lao động để gia tăng sản lượng. Như vậy, trong ngắn hạn nền kinh tế phải đối mặt với giá cả leo thang, đồng tiền mất giá.

Còn về dài hạn, giống như tiệm bánh không thể thuê thêm lao động mãi được vì không gian tiệm chật hẹp, nền kinh tế cũng đối mặt với các nguồn lực bị giới hạn. Việc tăng cung cũng chỉ làm chậm tốc độ tăng giá, chứ về dài hạn, giá cả vẫn sẽ tiếp tục tăng nếu tổng cầu tăng quá mạnh.

Làm thế nào ước lượng sản lượng tiềm năng của một nền kinh tế? Cách đơn giản nhất là ước lượng dựa vào hàm xu hướng tuyến tính cho tổng sản phẩm quốc nội. Có một cách khác là ước lượng tốc độ tăng trưởng tiềm năng bằng cách tính trung bình tốc độ tăng trưởng hằng năm. Ước tính cho thấy tăng trưởng trung bình giai đoạn 1990-2000 của Việt Nam khoảng 7,5%/năm và 6,5% cho giai đoạn 2001-2024 (Hình 1).

(Nguồn số liệu: Ngân hàng Thế giới)

Tuy nhiên, nếu tổng cầu dự kiến năm 2026 tăng đến 10%, vượt xa mức tăng trưởng tiềm năng ước tính (khoảng 6,5-7,5%/năm), nguy cơ đối mặt với lạm phát cao là rất lớn. Việc sản lượng tiềm năng có thể tăng tương ứng 10% là điều rất khó xảy ra bởi những cải cách gần đây cần thời gian mới thấm dần vào nền kinh tế.

Trường Giang

Khác với những dòng sông khác chảy từ Trường Sơn ra biển, sông Trường Giang quê tôi mang một dáng vẻ riêng. Dòng sông nối từ hạ lưu Vu Gia – Thu Bồn, chảy dài song song bờ biển, rồi gặp sông Tam Kỳ – An Tân. Đặc biệt, cả hai đầu bắc và nam của sông đều thông với biển, như vòng tay bao bọc lấy vùng đất xứ Quảng.

Tôi được kể rằng ngày xưa ba tôi thường rủ chú Hoàng chạy xe đạp ra bờ sông, bỏ quần áo vào bao ni-lông rồi bơi sang xã bên để gặp người yêu – chính là má tôi bây giờ. Đến lúc rước má về cũng đi bằng ghe trên dòng sông ấy. Có lẽ vì cái trắc trở tuy gần mà xa đó, theo chồng, má tôi cũng bỏ luôn nghề dạy học. Nhà vợ tôi cũng ở phía bên kia sông, nhưng mà về phía bắc. Chúng tôi gặp nhau và sinh sống ở thành phố, nơi có con sông nổi tiếng với những cây cầu, nhưng rồi bao cơ duyên đưa đẩy, cuối cùng tôi lại nối nghiệp má.

Tuổi thơ tôi cũng gắn bó với dòng sông này. Cứ hè đến, tôi lại háo hức đòi về nhà ngoại. Sáng sớm, cả xóm rủ nhau đi chăn trâu, nghịch đất sét, tắm sông. Tôi còn nhớ chuyện “chuồn chuồn cắn rốn sẽ biết bơi”. Nghe thì vui vậy, chứ thật ra tập bơi sông mới là cách rèn hay nhất. Anh Cường (anh con cậu) với mấy đứa bạn hay quăng tôi ra tận cột tre cách bờ cả chục mét, rồi cứ thế tôi phải tự bơi vào.

Sông Trường Giang chảy men theo dọc biển; Nguồn ảnh: Báo Tuổi Trẻ

Mùa lũ về, nước sông dâng ngập đường đến đầu gối, vậy mà lũ học trò chúng tôi vẫn lặn lội đến trường. Khi nước cao quá, chúng tôi men theo con đường ven động, hai bên là hàng xương rồng trơ cứng trong gió cát. Chỉ khi nào nước dâng ngập nhà, trường mới cho nghỉ học. Tôi nhớ như in mùa nước lớn năm Chín Chín, cả nhóm trẻ con phải dắt díu nhau sang ở nhờ nhà chú trên động cát cao.

Sông Trường Giang chẳng có cây cầu lớn nào bắc qua, cũng phải thôi, vì các tuyến đường chính đều chạy theo hướng bắc – nam. Nhưng đúng như tên gọi của nó, dòng sông dài này vẫn lặng lẽ nối liền những vùng quê, ôm lấy biết bao kỷ niệm của bao thế hệ.

Thursday, August 2, 2018

Một phản biện

Dòng vốn nước ngoài, trong đó có đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vào nhiều có thể làm tăng giá đồng nội tệ. Ngược lại, khi dòng vốn vào đột ngột dừng lại hoặc các nhà đầu tư rút vốn ra khỏi một quốc gia, đồng nội tệ của quốc gia này có chiều hướng mất giá.
 
Hình vẽ và kết quả hồi quy mà tác giả Nguyễn Đức Độ minh họa có vẻ như cho biết quan sát thứ hai. Nhưng ông ấy đưa ra kết luận ngược: Phá giá có thể kéo theo giải ngân FDI giảm, rồi tăng trưởng kinh tế giảm theo sau.
 

Chỉ bằng hồi quy đơn giản giữa sự thay đổi của tỷ giá hối đoái và tốc độ giải ngân FDI, ông ấy đưa ra kết luận mà nó thể hiện rõ cái "liều" của ông.

Một quốc gia đang ăn nên làm ra như Việt Nam thì dòng vốn nước ngoài vào nhiều cũng dễ hiểu. Nhưng đôi khi, dòng vốn dừng hoặc giảm đi, bởi có thể hai nguyên nhân sau. Thứ nhất, bất ổn kinh tế trong nước; giai đoạn 2009-2011 như tác giả bôi đỏ ở hình thứ hai, Việt Nam vừa hết suy thoái, lại đến lạm phát quá cao.
 
Thứ hai, sự tháo chạy vốn ra khỏi các quốc gia đang phát triển, do nhóm nước này gặp khủng hoảng hoặc các quốc gia giàu tăng lãi suất; giai đoạn 1997-1999, như tác giả bôi đỏ ở hình thứ hai, chứng kiến khủng hoảng tiền tệ châu Á.
 
Hệ quả là đồng tiền mất giá (có thể do ngân hàng trung ương không can thiệp hiệu quả), còn tăng trưởng kinh tế giảm sút.
 
Đồng Việt Nam mất giá chừng 1.5% so với đô la Mỹ tính từ đầu năm do nắm giữ đồng đô la hấp dẫn hơn nhờ lãi suất tăng. Hơn nữa, lạm phát 4% năm 2017 không quá cao đối với một nước đang phát triển, nhưng ít nhiều cũng tăng kỳ vọng mất giá tiền đồng (do cao hơn lạm phát ở Mỹ).
 
Trở lại bài viết của ông Nguyễn Đức Độ, nếu trục tung biểu thị sự biến động của giá VNĐ, thay vì FDI, có lẻ ông ấy đưa kết luận hợp lý hơn. Nhưng điều đó là chưa đủ. Dòng FDI còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa: cơ sở hạ tầng, môi trường kinh doanh, nhân lực, công nghiệp hỗ trợ ... Có thể phá giá đồng tiền có tương quan với FDI, nhưng các yếu tố này phải được kiểm soát.
 
Hơn nữa, các nhà đầu tư sẽ giàu có hơn tương đối khi mua sắm, trả lương ở Việt Nam khi VNĐ mất giá. Đằng này, ông ấy cho rằng "không ai muốn đầu tư vào một nền kinh tế khi mà chưa làm ăn gì đã bị lỗ nặng do đồng tiền mất giá mạnh. Hoặc ít nhất thì các nhà đầu tư nước ngoài cũng trì hoãn quyết định giải ngân vốn của mình với lý do nắm giữ USD thêm ngày nào sẽ thu lợi thêm ngày đó mà không cần phải làm gì". Câu sau đá câu trước.

Friday, January 12, 2018

Định lý quanh quanh co co

Cô giáo dạy Toán lớp 8 có lần trêu đùa trước lớp rằng tôi đã phát minh ra "định lý quanh quanh co co". Ý của cô bài giải của tôi đã gần đưa ra điều cần phải chứng minh, nhưng tôi lại vòng vo làm lại từ đầu, khiến nó trở rối rắm, không đưa ra được câu trả lời cuối cùng.

Hôm nay đọc bài “Bẫy giá trị thấp” của ông Bùi Trinh trên báo Tia Sáng, nhớ lại chuyện cũ và cả chuyện mới đây. Tôi đã phản hồi một bài báo của ông cũng trên báo này nhưng ban biên tập im lặng. Vậy thử sử dụng "định lý quanh quanh co co", như ông sử dụng cụm từ "Bẫy giá trị thấp", tiếp tục bình luận về bài báo của ông xem sao.

Với câu hỏi liệu Việt Nam có thể đuổi kịp “hàng xóm” không? (“Hàng xóm” chỉ các quốc gia lân lận có thu nhập bình quân gấp Việt Nam nhiều lần như Thái Lan, Malaysia, Indonexia). Câu trả lời thông thường là tăng trưởng kinh tế dựa vào lợi thế so sánh. Tức là tận dụng lợi thế về nguồn lao động trẻ, đông đảo, về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý để phát triển các ngành, chẳng hạn, công nghiệp định hướng xuất khẩu sử dụng nhiều lao động, nông nghiệp và du lịch. Những lợi thế này có tính động, có thể thay đổi, tùy vào mức độ phát triển của một quốc gia qua thời gian.

Ông Bùi Trinh đặt ra vấn đề khác: Việt Nam có đang rơi vào bẫy giá trị thấp (dẫn tới không theo kịp “hàng xóm”)? Theo ông Bùi Trinh, Việt Nam làm thuê cho doanh nghiệp nước ngoài, chứ không làm chủ, ngay trên sân nhà. Mà làm thuê thì đóng góp vào giá trị gia tăng thấp (kéo theo năng suất thấp). Do tiếp tục kiểu tăng trưởng này mấy chục năm qua, nên Việt Nam có thể rơi vào cái bẫy giá trị thấp – ai rơi vào đó rồi thì không thoát ra được. Vì vậy, tốt hơn và lẻ ra là chuyển qua ngành có giá trị cao (năng suất cao).

Tôi cũng cho rằng nền kinh tế Việt Nam rõ ràng phụ thuộc nhiều vào khu vực nước ngoài, đặc biệt những doanh nghiệp như Samsung. Phần của Việt Nam trong giá trị giá tăng ở doanh nghiệp nước ngoài chủ yếu là tiền lương và thuế. Chúng đương nhiên mang lại giá trị thấp (mà ông cần chứng minh), nhưng đây không phải là cái bẫy. Việt Nam vẫn đang tăng trưởng khá tốt, ít ra một phần là nhờ tận dụng lợi thế lao động. Lao động nông thôn chiếm tỷ trọng lớn, còn tiềm năng để phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm. Tuy nhiên, không thể đuổi kịp “hàng xóm” theo kiểu đó được, rồi cũng phải chuyển từ khâu gia công, chế biến qua khu vực giá trị cao như khâu sáng chế, thiết kế, và dịch vụ bán hàng.

Đáng ra câu trả lời của tôi là không có bẫy nào, trái ngược với nhận định của ông Bùi Trinh. Nhưng cũng đồng ý với ông rằng phần đóng góp nhỏ của Việt Nam vào giá trị sản phẩm. Như cách giải quanh quanh co co của tôi năm xưa.

Cách đặt vấn đề của ông khiến câu trả lời của ông thiên lệch và của tôi không trọn vẹn.

Phong cách viết bài của ông Bùi Trinh thường là đặt sự việc đã ở thái cực, theo hướng xấu/bất lợi, và đưa ra đề xuất hướng ngược lại. Ví dụ trong bài này, ông phủ nhận/đánh giá thấp đóng góp của doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam nhờ lợi thế nhân công giá rẻ từ khu vực nông thôn vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tích lũy vốn cũng như kinh nghiệm quản lý. Việt Nam đang tận dụng tốt lợi thế lao động rẻ. Chiến lược này có gì sai chứ trong khi chúng ta chưa có đủ nguồn lực vốn và con người có kỹ năng – chưa xuất hiện những lợi thế mới - để phát triển những ngành công nghiệp hiện đại hơn, mang lại giá trị cao hơn.

Tuesday, October 24, 2017

Về Nam Hội An

Từ Đà Nẵng về quê, tôi có thể chạy xe theo quốc lộ 1A vào rồi đi vài km đường bê tông nữa. Thỉnh thoảng tôi đi con đường ven biển đến Cửa Đại, qua bến đò Duy Hải, rồi đường Thanh Niên. Tuyến đường này lâu hơn chút xíu nhưng an toàn hơn. Bây giờ nó được thay bởi một con đường bốn làn chạy từ Cầu Cửa Đại đến tận Tam Thanh, Tam Kỳ.

Con đường mới được xây với kỳ vọng khai phá vùng Nam Hội An đang còn hoang sơ, dân cư thưa thớt. Với vị trí gần Đà Nẵng – Hội An, phát triển du lịch ven vùng bãi ngang này có lẻ là lựa chọn phù hợp. Nhiều dự án nghỉ dưỡng tỷ đô thi công ngày đêm đang dần định hình. Nhà đầu tư vào đây còn tận dụng những khoản ưu đãi về thuế má dưới cơ chế của Khu kinh tế mở Chu Lai – một nơi rất xa.

Những đổi thay đang đến quá nhanh. Hàng trăm người dân vùng quê xung quanh được tuyển dụng vào làm công nhân xây dựng. Hôm rồi hỏi chuyện 20/10, “các mẹ, các chị” tổ chức tiệc vui trễ một ngày vì phải bận ở công trường. Bà con ở quê còn than phiền giờ khó kiếm thợ xây với ngày công cũ. Giá đất rục rịch tăng, do nhu cầu đất xây nhà trọ đón đầu ngàn nhân viên sẽ đến làm việc.

Nhưng cũng có câu chuyện buồn. Chuyện thu hồi đất, đền bù không thỏa đáng, nghe quen quen không chỉ ở nơi này. Con đường chạy ngang qua cánh đồng lúa lại làm cống thoát nước cao hơn mặt đất ruộng. Người dân không thể canh tác trên phần đất bị “nhốt” phía trong. Một công ty muốn nhận làm dự án dân cư nhưng phải chờ vì phải chuyển đổi mục đích sử dụng.

Mấy chục năm nay, người dân không tự xoay sở thoát nghèo được. Một cú hích từ đầu tư hạ tầng, từ nguồn vốn khổng lồ đổ vào có lẻ mang đến sự thay da, đổi thịt cho vùng đất khô cằn này. Sự chuyển đổi nào cũng không dễ dàng mà có những mặt trái của nó. Nhưng rồi đây, cuộc sống của người dân sẽ không còn chậm rãi như trước.